Tin hoạt động

Ngày làm việc thứ 3, HĐND tỉnh khóa XIII: Thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm, chất vấn và trả lời chất vấn

Sáng 07/12, các đại biểu HĐND tỉnh làm việc tại hội trường, thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu hoặc phê chuẩn; chất vấn và trả lời chất vấn.

Theo đó, các đại biểu đã thực hiện việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu hoặc phê chuẩn gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh, các Ủy viên UBND tỉnh. 

Đại biểu đã bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu hoặc phê chuẩn

Tiếp theo, tổ thư ký của Kỳ họp đã trình bày Báo cáo tổng hợp thảo luận tổ của ngày làm việc hôm trước. Theo đó, tại các tổ thảo luận các đại biểu HĐND tỉnh đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, trí tuệ, tham gia đóng góp nhiều ý kiến vào các nội dung, chương trình Kỳ họp. Qua thảo luận, có 70 lượt ý kiến của đại biểu HĐND tỉnh và các cơ quan tham gia phát biểu. Đa số đại biểu nhất trí với các báo cáo, đề án, tờ trình tại Kỳ họp và đánh giá cao công tác chuẩn bị cũng như sự điều hành, thực hiện nhiệm vụ của UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn. Đối với những nội dung cần giải trình, chất vấn cần làm rõ, các đại biểu đã gửi ý kiến yêu cầu trả lời.

Tiếp đó, đồng chí Chủ tọa Kỳ họp điều hành nội dung chất vấn và trả lời chất vấn. Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn, đã có 7 đại biểu đặt câu hỏi chất vấn đối với các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh và giám đốc một số sở, ngành.

Đại biểu Lê Thị Thúy Nguyên, tổ đại biểu huyện Phú Lương 

Đại biểu Lê Thị Thúy Nguyên, tổ đại biểu huyện Phú Lương chất vấn: Đề nghị UBND tỉnh cho biết những giải pháp chủ yếu đã triển khai trong năm 2018 để đạt được chỉ tiêu tăng thêm 2% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh?

Đồng chí Đoàn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trả lời: Năm 2017, tỷ lệ dân số nông thôn trên địa bàn tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 89%, tương đương với 192.284 hộ nông thôn (761.840 người). Năm 2018, tỉnh đặt ra mục tiêu tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tăng từ 89% lên 91%.

Để hoàn thành mục tiêu trên, UBND tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn vay vốn WB, các chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt theo Quyết định 755 ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện đảm bảo tiến độ các công trình cấp nước phân tán và công trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Bên cạnh đó, UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh thông qua các lớp tập huấn, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng... để nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của nước sạch; tăng cường trách nhiệm của người dân nhằm bảo vệ các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung.

Bằng các giải pháp trên, năm 2018 tỉnh hoàn thành mục tiêu tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tăng từ 89% lên 91%, tương đương thêm 4.321 hộ.

Đại biểu Trương Thị Kim Thanh, tổ đại biểu huyện Đại Từ chất vấn về nguyên nhân cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc chậm tiến độ triển khai thực hiện Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình 135?

Đồng chí Đoàn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh  

Trả lời chất vấn của đại biểu, đồng chí Đoàn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết Chương trình 135 bao gồm 3 tiểu dự án, tổng kinh phí là hơn 15 tỷ đồng, bao gồm ngân sách trung ương, tỉnh, huyện. Quy trình thực hiện các bước về kinh phí từ năm 2017 trở về trước chỉ có 2 bước, quy trình xét duyệt dự án có 5 bước.

Tuy nhiên, từ năm 2018 thực hiện Thông tư số 15/2017/TT-BTC ngày 15/02/2017 của Bộ Tài chính và Thông tư số 18/2017/TT-BNNPTNT ngày 09/10/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn xét duyệt các dự án trong đó quy trình xét duyệt dự án có 7 bước, mất nhiều thời gian hơn dẫn đến việc chậm triển khai. Bên cạnh đó, có những xóm, xã chưa đủ điều kiện cũng đưa lên cấp trên bình xét nên đã phải bình xét lại.

Về Dự hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình 135 còn chậm, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết các quy trình thực hiện Dự án đang được triển khai và kiểm soát chặt chẽ. Dự án sẽ còn tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo và có tính kế tiếp. Các huyện, các xã, các xóm đang triển khai rất tích cực, nhanh gọn và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế.

Đại biểu Nguyễn Thị Thúy Nga, tổ đại biểu huyện Phú Bình

Đại biểu Nguyễn Thị Thúy Nga, Tổ đại biểu huyện Phú Bình chất vấn: Tại Điều 40 của Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm quy định Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm 9 khoản, trong đó, khoản thứ 7 có nêu: “Xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương”. Đề nghị UBND tỉnh cho biết việc triển khai thực hiện nội dung này của tỉnh trong thời gian qua như thế nào?

Đồng chí Trịnh Việt Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trả lời: Thực hiện Luật An toàn thực phẩm và Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, UBND tỉnh đã có các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện. Trong đó, có văn bản số 1358/UBND-KGVX ngày 18/4/2018 chỉ đạo thực hiện Nghị định số 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Tại văn bản này, UBND tỉnh đã giao Sở Khoa học và Công nghệ nghiên cứu đề xuất xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương phù hợp với điều kiện tình hình thực tế.

Đồng chí Trịnh Việt Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Khoa học Công nghệ đã làm việc với các đơn vị liên quan chọn lựa các sản phẩm đặc thù của địa phương để quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm. Qua làm việc, Sở Khoa học Công nghệ đã lựa chọn 02 sản phẩm là: Chè Thái Nguyên và Gạo Bao thai Định Hóa và làm việc với các đơn vị của Bộ Khoa học Công nghệ để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, sau khi làm việc, các đơn vị nhận thấy 02 sản phẩm này đã có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn thực phẩm. Do vậy, việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm cho 02 sản phẩm này đã được dừng lại.

Xác định vấn đề an toàn thực phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong đó có việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm, UBND tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành liên quan tiếp tục lựa chọn các sản phẩm đặc thù, có phạm vi rộng để triển khai thực hiện xây dựng quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm.

Đại biểu Trần Văn Khương, tổ đại biểu thành phố Thái Nguyên

Đại biểu Trần Văn Khương, tổ đại biểu thành phố Thái Nguyên đặt câu hỏi đối với ngành Y tế về việc chậm thực hiện công tác mua sắm, quản lý thuốc, vật tư y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh.

Trả lời câu hỏi của đại biểu, đồng chí Nguyễn Vy Hồng, Giám đốc Sở Y tế cho biết:Trước năm 2017, công tác mua sắm, quản lý thuốc, vật tư y tế thực hiện tập trung tại Sở Y tế, luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh và thống nhất giá trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2017, thực hiện Thông tư số 11 của Bộ Y tế và chỉ đạo của UBND tỉnh, thuốc thuộc danh mục đấu thầu tập trung cấp địa phương do Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp thực hiện, thuốc thuộc Danh mục thuốc do đơn vị y tế tự tổ chức đấu thầu theo quy định. Thực tế, việc cung ứng thuốc chậm là do Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản và các đơn vị mới triển khai công tác đấu thầu nên còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm, chưa thực hiện đủ các thủ tục, trình tự pháp lý các bước tổ chức lựa chọn nhà thầu mua thuốc. Vì vậy, Hội đồng thẩm định của Sở Y tế gặp nhiều khó khăn trong quá trình thẩm định. Một số loại thuốc nhu cầu sử dụng ít, không có nhà thầu tham gia hoặc bỏ thầu.

Đồng chí Nguyễn Vy Hồng, Giám đốc Sở Y tế

Về câu hỏi một số thiết bị y tế tại các đơn vị không xác định theo thời gian bảo hành của nhà sản xuất theo quy định; tình trạng trang thiết bị y tế đã mua chưa đưa vào sử dụng; chậm đưa vào sử dụng, khai thác chưa đủ công suất thiết kế, đồng chí Giám đốc Sở Y tế cho biết: Việc thực hiện bảo hành bảo trì trang thiết bị y tế do các đại lý, đại diện các hãng sản xuất ở nước ngoài tại Việt Nam thực hiện. Một số trang thiết bị y tế đã được trang bị nhưng do bác sỹ đã có văn bằng, chứng chỉ nhưng chưa đủ thời gian thực hành nên chưa được cấp chứng chỉ hành nghề.

Đại biểu Nguyễn Văn Cường, tổ đại biểu thị xã Phổ Yên chất vấn: Đề nghị UBND tỉnh cho biết kết quả thực hiện Đề án Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh. Những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới để đẩy nhanh, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Thái Nguyên.

Đồng chí Phạm Văn Sỹ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT trả lời: Sau khi Đề án Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (CNC) tỉnh Thái Nguyên được phê duyệt, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu tổ chức hội nghị công bố và triển khai các nội dung đề án. Đến nay đạt được một số kết quả:

Về xây dựng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Đã lập xong đề án khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, quy mô 154,36 ha; trình Bộ Nông nghiệp và PTNT thẩm định để trình Chính phủ phê duyệt. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang thống nhất được với Bộ Tài Nguyên và Môi trường về kế hoạch sử dụng đất.

Về xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC: Bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC. Về lĩnh vực trồng trọt: Có 8 vùng sản xuất quả các loại với quy mô trên 420 ha, trong đó 30,5 ha áp dụng quản lý nước tưới bằng hệ thống tưới phun van xoay; có 15 địa điểm sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao với quy mô 127,7 ha; có 23 ha sản xuất hoa ứng dụng nhà lưới, nhà kính, điện thắp sáng và hệ thống tưới nước tự động; có 855,5 ha chè ứng dụng hệ thống tưới nước tự động trong sản xuất; 97 điểm sản xuất chè an toàn được chứng nhận VietGAP với tổng diện tích đạt 1.078,4 ha. Về lĩnh vực chăn nuôi: Theo đánh giá mặc dù chưa hình thành được các khu, vùng  chăn nuôi công nghệ cao, nhưng trên thực tế toàn tỉnh có 743 trang trại chăn nuôi tập trung, hầu hết các trang trại đã ứng dụng các tiến bộ KHCN vào sản xuất như: Giống năng suất cao, chuồng lạnh, tự động hóa vận hành thức ăn, nước uống, sát trùng và xử lý môi trường… Về lĩnh vực thủy sản, hiện nay đã hình thành 02 vùng sản xuất cá nước lạnh với tổng sản lượng cá thương phẩm ước đạt trên 700 tấn/năm; mô hình nuôi cá theo công nghệ Biofloc.

Bên cạnh đó, có một số mô hình điểm sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC; Trung tâm nông nghiệp ứng dụng CNC trên địa bàn thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên đã có doanh nghiệp đăng ký đầu tư xây dựng.

Đại biểu Ngô Trung Đình, Tổ đại biểu thị xã Phổ Yên chất vấn về tiến độ triển khai Chương trình phát triển Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2017-2020. Kết quả đạt được, nguyên nhân và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới.

Trả lời câu hỏi chất vấn, đồng chí Phạm Thái Hanh, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: Qua hai năm triển khai Chương trình phát triển Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2017-2020, tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất phát triển ngành văn hóa, thể thao và du lịch; như Dự án xây dựng hạ tầng du lịch Hồ Núi Cốc – Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa; cải tạo, nâng cấp mở rộng Nhà thi đấu thể thao tỉnh; xây dựng Phù điêu tại Quảng trường Võ Nguyên Giáp… Trong năm 2018, tỉnh đã bố trí hơn 149 tỷ cho sự nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch. Tuy nhiên vẫn còn một số nội dung chưa đạt như: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, chưa thực hiện được cơ chế hỗ trợ, tài trợ cho các công trình văn học nghệ thuật, chưa xây dựng được rạp chiếu phim quy mô lớn, thiết chế văn hóa thể thao chưa đạt chuẩn, tỷ lệ khách du lịch lưu trú dài ngày thấp, số phòng khách sạn tăng hàng năm thấp… Nguyên nhân là do kinh phí cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể thao và du lịch trong tổng chi cân đối ngân sách tỉnh hằng năm còn thấp so với chỉ tiêu của Chương trình đề ra; ngành chưa thực sự quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện Chương trình; việc xúc tiến du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh chưa rõ nét. Để thực hiện tốt Chương trình, thời gian tới ngành tiếp tục thực hiện một số giải pháp trọng tâm như: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các ngành, địa phương; huy động mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra; ban hành cơ chế thúc đẩy sự phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch…

Đại biểu Ân Văn Thanh, tổ đại biểu huyện Đồng Hỷ chất vấn: Đề nghị UBND tỉnh cho biết kết quả thực hiện Quy hoạch ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và điện tử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 sau hơn 01 năm triển khai? Khó khăn, vướng mắc và giải pháp trong thời gian tới để góp phần thực hiện kiến trúc Chính quyền điện tỉnh Thái Nguyên?

Đồng chí Vũ Quốc Thạnh, Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông trả lời: Quy hoạch ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và điện tử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tập trung vào 02 nội dung chính là phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp điện tử công nghệ thông tin.

Về những kết quả đạt được trong việc phát triển ứng dụng CNTT, Sở Thông tin Truyền thông đã tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Thái Nguyên; phối hợp với các đơn vị của Bộ Thông tin Truyền thông xây dựng kiến trúc chính quyền điện tử phiên bản 2.0. Bên cạnh đó, hiện nay, Sở đang tiến hành thực hiện 04 dự án ứng dụng CNTT lớn: Dự án Hạ tầng kỹ thuật CNTT tập trung tỉnh Thái Nguyên; 03 dự án thuê ngoài dịch vụ CNTT (Nâng cấp, xây dựng Cổng thông tin điện tử tỉnh và các Cổng TTĐT thành phần; Nâng cấp, xây dựng Mạng truyền số liệu chuyên dùng; Nâng cấp, duy trì hệ thống giao ban điện tử trực tuyến). Cùng với đó, Sở triển khai một số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên Cổng TTĐT tỉnh. Cấp, bàn giao chữ ký số cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Xây dựng, quản lý hệ thống phần mềm quản lý văn bản liên thông; hệ thống email điện tử của tỉnh.

Để góp phần thực hiện kiến trúc Chính quyền điện tỉnh Thái Nguyên, việc triển khai các ứng dụng CNTT, xây dựng chính quyền điện tử phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm của người đứng đầu đơn vị, địa phương. Bên cạnh những nơi làm tốt, vẫn còn những đơn vị việc ứng dụng CNTT chưa đạt hiệu quả như mong muốn, chủ yếu do quan điểm, sự chỉ đạo của người đứng đầu. Bên cạnh đó, còn nhiều người dân, kể cả cán bộ, công chức còn chưa có thói quen sử dụng các ứng dụng CNTT trong công việc và các giao dịch hành chính. Ngoài ra, nguồn lực bố trí cho các dự án ứng dụng CNTT còn hạn chế cũng là một khó khăn, tồn tại.

Để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước, Sở Thông tin Truyền thông sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ quản lý đặc biệt là người đứng đầu trong việc triển khai ứng dụng CNTT. Tham mưu, đề nghị UBND tỉnh bố trí, huy động các nguồn lực nhằm đảm bảo phát triển và triển khai các Dự án CNTT.

Buổi chiều, các đại biểu làm việc tại Hội trường, nghe giải trình về một số nội dung cần làm rõ trong các báo cáo, đề án, tờ trình và dự thảo Nghị quyết.

Nguồn: thainguyen.gov.vn

Các tin khác